NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
[ 26/09/2017 00:00 AM | Lượt xem: 251 ]

Nghiên cỨu giẢi pháp đào tẠo ThẠc sĨ QuẢn lý Tài nguyên

và Môi trưỜng đáp Ứng nhu cẦu nguỒn nhân lỰc chẤt lưỢng cao

GS. TSKH. Phạm Hoàng Hải: Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

TS. Kiều Quốc Lập, TS. Đỗ Thị Vân Hương: Khoa Khoa học Môi trường và Trái Đất - ĐH Khoa học Thái Nguyên


TÓM TẮT

Đào tạo thạc sĩ ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam và của vùng trung du miền núi phía Bắc là cần thiết. Bài báo trình bày các vấn đề về bối cảnh chung của việc đào tạo thạc sĩ Quản lý tài nguyên và môi trường (bao gồm các vấn đề tài nguyên và môi trường bức xúc ở Việt Nam, thực trạng nguồn nhân lực ngành Tài nguyên, môi trường và nhu cầu đào tạo ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường trình độ cao), từ đó phân tích và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển người học đáp ứng hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ có năng lực, đáp ứng yêu cầu thực tiễn tại Khoa KH Môi trường và Trái Đất, trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đềcạn kiệt nguồn tài nguyên và ô nhiễm môi trườngđanglà một thách thức lớn mà nước ta phải đương đầutrong giai đoạnhiện nay và trong nhiều năm tới. Do đó, nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực về quản lý tài nguyên và môi trường (TN&MT) phải được coi là chìa khóa của chiến lược quốc gia. Nó không những mang tính quy mô sâu rộng mà còn mang tính cấp thiết và thời sự để giải quyết các vấn đề bức xúc về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững. Theo cảnh báocủaQuỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), dấu chân sinh thái của chúng ta đã vượt quá sức tải sinh học của trái đất đến hơn 50%. Sự suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên đang diễn ra với mức độ nghiêm trọng. Trong Hội nghị giao ban trực tuyến toàn quốc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước:“Chúng ta không đánh đổi môi trường vì lợi ích trước mắt”. Đó là thông điệp về trách nhiệm xã hội cho mỗi người. Đó cũng là nhiệm vụ đầy thách thức cho các cơ quan quản lý nhà nước, cho việc đỏi hỏi đào tạo nguồn nhân lực có năng lực thực tiễn, nhưng cũng mở ra một tương lai tươi sáng khi mỗi người dân đều có quyền được sống trong một môi trường trong lành, an toàn, vì một sự phát triển bền vững.Nhận thức rất rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, tài nguyên trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, việc đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn trong công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường là vấn đề hết sức cấp thiết.

1. BỐI CẢNH CHUNG CỦA VIỆC đào tạo Thạc sĨ Quản lý TN&MT chất lượng cao

1.1.CÁC VẤN ĐỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BỨC XÚC Ở VIỆT NAM

Trong những năm qua, tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác quá mức và sử dụng chưa hợp lý gây hủy hoại môi trường, lãng phí tài nguyên. Ô nhiễm môi trường và BĐKH ngày càng nghiêm trọng đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Bức tranh chung của môi trường Việt Nam hiện nay thể hiện [5]:

Rừng tiếp tục bị thu hẹp: Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%), đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%). Độ che phủ của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động. Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp. Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh. Nếu như 40 năm trước đây, 400.000 ha đất ven biển nước ta được bao phủ bởi rừng ngập mặn, nhưng chỉ trong 5 năm, 2006 – 2011 có đến 124.000 ha rừng ngập mặn ven biển đã biến mất để nhường chỗ cho các ao tôm, ao cá - tương đương diện tích bị mất trong 63 năm trước đó. Thống kê số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá để sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới trồng bù được hơn 700 ha.

Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng:Thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao nhất thế giới. Với các điều tra đã công bố, Việt Nam có khoảng 21.000 loài động vật, 16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu, quý hiếm. Thế nhưng, trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong. Hơn 100 loài sinh vật ngoại lai đang hiện diện tại nước ta cũng là mối nguy lớn cho môi trường sinh thái, như: ốc bươu vàng, cây mai dương, bọ cánh cứng hại dừa, rùa tai đỏ là những loài xâm hại nguy hiểm.

Ô nhiễm sông ngòi, biển:Với những dòng sông ở Việt Nam, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề là điều dễ dàng nhận thấy. Nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ trực tiếp xuống các dòng sông. Trong đó, những dòng sông lớn đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề nhất bao gồm: sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống sông Tiền - sông Hậu. Những con sông này bị nhiễm độc, gây hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống, sức khoẻ của cộng đồng. Vụ Formosa Hà Tĩnh là thủ phạm xả thải gây ra hiện tượng cá biển chết hàng loạt, ô nhiễm môi trường biển đang có những biểu hiện rõ nét.

Bãi rác công nghệ và chất thải: Việt Nam hiện đang có nguy cơ trở thành “bãi rác công nghệ” của thế giới khi mà các doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn mua về hơn một nghìn tàu biển trọng tải lớn, cũ nát, nhiều thuyền không thể khai thác được. Các dự án luyện, cán thép, công nghệ sản xuất xi măng… cũ nhập từ Trung Quốc nhanh chóng lạc hậu. Một lượng lớn rác thải độc hại là các bình acquy hỏng từ các loại xe đạp điện, xe máy điện, máy móc, đồ dùng"second-hand" bỏ thải đến từ các nước phát triển như Đức, Nhật, Mỹ,.. ngày càng phổ biến.

Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp:Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao. Trong đó, lo ngại nhất là chất thải từ chăn nuôi với tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm.Nuôi trồng thủy sản cũng đang gặp phải vấn đề tương tự. Tình trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt một cách tràn lan, không có kiểm soát đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước. Số rác thải này cộng với lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp đã khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên đáng lo ngại.

Ô nhiễm ở các làng nghề:Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội), Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất.Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnh liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72%, các bệnh ung thư, nhiễm độc máu có tỷ lệ ngày một tăng cao....

Khai tháckhoáng sản:Cùng với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu, nguồn tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất của nước ta đã bị khai thác khá mạnh. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009 - 2016, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,2 - 2,8 triệu tấn khoáng sản các loại. Riêng năm 2016, lượng khoáng sản xuất khẩu vẫn gần 1.080.000 tấn thông qua đường chính ngạch. Và, hậu quả của việc suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường từ những hoạt động khai thác khoáng sản đã quá rõ ràng.

Ô nhiễm không khí: Việt Nam cũng đang bị coi là nước có ô nhiễm không khí cao tới mức báo động.Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ chất ô nhiễm trong không khí khu vực ven đường giao thông, trong đó chủ yếu là CO tăng 1,44 lần và bụi PM10 (tức bụi có kích thước bé hơn 10μ) tăng 1,07 lần. Hà Nội hiện có tới 237ngày/năm chất lượng không khí kém, 21 ngày chất lượng không khí xấu và một ngày chất lượng không khí vào mức nguy hại. Hà Nội bị liệt vào một trong mười thành phố ô nhiễm không khí cao nhất thế giới (theo Báo điện tử Tiền Phong, ngày 4-3-2016).

Biến đổi khí hậu và thiên tai: Hiện nay BĐKH đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến Việt Nam. Riêng năm 2016 được ngành khí tượng đánh giá là năm kỉ lục về thiên tai ở Việt Nam. Theo thống kê, có 10 cơn bão, 7 áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông, trong đó, 4 cơn bão và 2 áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền.Ngoài ra, nước ta còn chịu ảnh hưởng của 24 đợt không khí lạnh, 22 đợt mưa lớn trên diện rộng, 5 đợt lũ lớn ở Bắc Bộ, 16 đợt lũ lớn trên các sông miền Trung và Tây Nguyên… Thiên tai đã gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn về tinh thần và vật chất của người dân.

Tài nguyên đất, nước, khoáng sản, các hệ sinh thái, cảnh quan, tiềm năng vị thế... chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ, toàn diện về tiềm năng, trữ lượng, giá trị. Địa chất khoáng sản chủ yếu mới được điều tra ở phần bề mặt hoặc đến độ sâu 100m của hơn 60% diện tích; địa chất khoáng sản biển mới được điều tra ở khu vực có độ sâu đến 100m nước. Hoạt động điều tra, thăm dò nguồn nước còn rất hạn chế, nhất là nguồn nước dưới đất; thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước còn rất thiếu. Phần lớn các hệ sinh thái tự nhiên chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ, toàn diện, kiểm kê định kỳ. Số liệu về rừng còn nhiều bất cập, không thống nhất. Thông tin, dữ liệu về nguồn lợi thủy sản chưa đủ độ tin cậy.Việc điều tra, đánh giá, lượng hóa giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên chỉ mới được thử nghiệm ở một số nhóm, loại.Thông tin, dữ liệu về các nguồn tài nguyên chưa được chuẩn hóa, độ tin cậy chưa cao, không được quản lý thống nhất nên gây ra nhiều khó khăn cho việc sử dụng. Việc khai thác, sử dụng nhiều nhóm tài nguyên chưa hợp lý, kém hiệu quả và không bền vững dẫn đến lãng phí nguồn lực quốc gia, một số nguồn tài nguyên bị suy thoái, cạn kiệt.

Môi trường nước ta đang bị ô nhiễm nặng nề, trong đó ô nhiễm nhất phải kể tới ô nhiễm không khí và nguồn nước. Quá trình đô thị hóa, hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và BĐKH ngày càng gây áp lực nặng nề lên khối lượng và chất lượng nguồn nước; Tài nguyên đất đang bị suy thoái do nhiều lý do: xói mòn, rửa trôi, canh tác không hợp lý; Tài nguyên khoáng sản suy giảm và cạn kiệt, và dự báo đến năm 2050 có trên 50% các mỏ khoáng sản ở Việt Nam sẽ không thể khai thác do vượt ngưỡng trữ lượng khai thác cho phép, …

Theo đánh giá mới đây của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạngchỉ số hiệu quả hoạt động môi trường,Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực như Philippines đạt 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm,... Còn theo kết quả nghiên cứu khác vừa qua tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe. Tình trạng ô nhiễm môi trường chậm được cải thiện; ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi còn nghiêm trọng, nhất là tại một số làng nghề, lưu vực sông. Ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân và doanh nghiệp chưa cao. Việc khắc phục hậu quả về ô nhiễm môi trường do chiến tranh để lại còn nhiều khó khăn... Sử dụng năng lượng tái tạo (điện sinh khối, điện gió, điện mặt trời,...) còn hạn chế.

1.2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Trong thời gian qua, đội ngũ công chức, viên chức ngành tài nguyên, môi trường,cán bộ môi trường trong các cơ quan, doanh nghiệpđã phát triển về số lượng, trưởng thành hơn về chất lượng, đáp ứng với yêu cầu của ngành và có những đóng góp đáng kể trong phát triển của ngành TN&MT nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nguồn nhân lực ngành TN&MThiện nay không chỉ còn thiếu về số lượng, chất lượng chưa cao mà còn mất cân đối trong cơ cấu ngành. Ở Trung ương, còn thiếu những cán bộ công chức có trình độ cao, chuyên môn sâu. Ở địa phương, đội ngũ cán bộ công chức còn thiếu về số lượng và hạn chế trong kỹ năng quản lý. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường tại cấp quận, huyện, phường, xã còn thiếu và hầu hết chưa có cán bộ được đào tạo chuyên ngành về môi trường. Cùng với đó là cơ cấu giữa các ngành còn mất cân đối khi quá nửa tập trung vào lĩnh vực quản lý đất đai thì ngành tài nguyên nước, khí tượng thủy văn chỉ có 1% nhân lực, địa chất khoáng sản gần 2% còn lại là nhân lực được đào tạo ở những chuyên ngành khác. Nhiều cán bộ ở cấp xã, vùng sâu, vùng xa còn chưa qua đào tạo chuyên môn, chủ yếu làm việc bằng kinh nghiệm và tự học. Nguồn nhân lực làm công tác chuyên môn không được đào tạo đúng chuyên ngành có nơi lên đến 40%. Vụ trưởng Tổ chức cán bộ (Bộ TN và MT) Tạ Đình Thi cho biết: Hiện nay, Bộ TN và MT có 30 tổ chức, gồm các vụ, văn phòng, tổng cục, cục, văn phòng ban chỉ đạo, với hơn 1.200 công chức đang công tác tại các đơn vị quản lý nhà nước và gần 11 nghìn viên chức, người lao động đang làm việc trong các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp. Đội ngũ công chức, viên chức của ngành tại địa phương có trên 33 nghìn người, trong đó cấp tỉnh, thành phố có 12.600 người, cấp huyện có chín nghìn người và cấp xã có 12 nghìn người. Tuy nhiên, tại một số lĩnh vực đang phải đối mặt sự thiếu hụt đội ngũ công chức, thiếu cán bộ có trình độ cao, chuyên môn sâu.Từ những vấn đề thực tiễn đòi hỏi ngành tài nguyên, môi trường phải có chiến lược phát triển phù hợp, có tầm nhìn, đánh giá đúng xu thế phát triển kinh tế - xã hội, đưa ra chiến lược phát triển lâu dài của ngành [2,7].

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định: “Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực với những giải pháp đồng bộ” [2]. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực ngành TN&MT là tiếp tục thực hiện có hiệu quả 3 đột phá chiến lược: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ”.Với chủ trương chuyển mạnh quá trình đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất cán bộ; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Đào tạo và bồi dưỡng phải gắn với nhu cầu phát triển của đơn vị, cơ quan, gắn với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động.

1.3. NHU CẦU ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO Ở VIỆT NAM VÀ VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học và sau đại học của ngành TN&MT là rất lớn. Theo nhu cầu tuyển dụng của ngành TN&MT, giai đoạn từ năm 2017-2020, Việt Nam cần có 48.000 cán bộ môi trường. Singapore là đất nước chú trọng bảo vệ môi trường, có tỷ lệ cán bộ môi trường là 350 người/1 triệu dân; Ở Campuchia tỷ lệ này là 55 người/1 triệu dân, trong khi đó ở Việt Nam chỉ là 29 người/1 triệu dân. Như vậy, với tỷ lệ cán bộ này, ngành TN&MT Việt Nam đòi hỏi cần được bổ sung cán bộ hoạt động trong ngành, đặc biệt nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao.

Vùng trung du, miền núi phía Bắc gồm 15 tỉnh có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, các dạng tài nguyên phong phú, trữ lượng lớn, vị trí địa lý thuận lợi. Theo quy hoạch đến năm 2020 khu vực này sẽ trở thành một trong sáu khu vực kinh tế trọng điểm của cả nước, tập trung phát triển thủy điện, chế biến nông lâm sản, khai thác và chế biến khoáng sản, hóa chất, phân bón, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí và công nghiệp chế biến ... Song song với sự phát triển kinh tế - xã hội là các vấn đề về tài nguyên, môi trường phát sinh dẫn đến nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực quản lý tài nguyên môi trường.

Tuy nhiên, hiện nay toàn khu vực miền núi phía Bắc chưa có cơ sở nào đào tạo trình độ thạc sĩ về Quản lý tài nguyên môi trường, điều này đã tạo ra sự thiếu hụt trầm trọng cán bộ trình độ cao tại khu vực miền núi phía Bắc.

Trước bối cảnh đó, việc đào tạo nguồn nhân lực quản lý TN&MT có trình độ cao là điều thực tiễn đang đòi hỏi. Nhu cầu đào tạo thạc sĩ ngành TN&MT được xuất phát từ [3]:

- Nhu cầu xuất phát từ nhiệm vụ đào tạo: Đào tạo cán bộ có trình độ thạc sĩ chuyên ngành Quản lý TN&MT nhằm đáp ứng yêu cầu về đào tạo cán bộ có trình độ cao phục vụ trực tiếp cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Xuất phát từ nhu cầu xã hội: Từ kết quả khảo sát cho thấy, xã hội thực sự có nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ thạc sĩ chuyên ngành Quản lý TN&MT. Tất cả các sở, ban, ngành liên quan đến lĩnh vực Quản lý TN&MT trong những năm tới đều có nhu cầu cử cán bộ đi học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nhiều tỉnh số lượng cán bộ cử đi học dự kiến hàng năm từ 10-20 người (Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh). Qua khảo sát đội ngũ sinh viên đã tốt nghiệp hoặc đang học tập các chuyên ngành Quản lý TN&MT nhiều sinh viên đều thể hiện mong muốn được tiếp tục học tiếp bậc sau đại học.

- Đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hướng tới phát triển bền vững và phù hợp với chủ trương của Chính phủ theo quyết định số 1216/QĐ-TTCP của về việc quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020, đặc biệt là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thì việc nâng cao trình độ, kiến thức về quản lý tài nguyên môi trường là thực sự cần thiết cho đội ngũ cán bộ đang công tác tại các Sở, Ban, Ngành, hoặc trực tiếp giảng dạy tại các trường đại học và cao đẳng, các nhà nghiên cứu về môi trường, cán bộ khoa học, kĩ thuật trong nhiều lĩnh vực khác như xây dựng, nông lâm, địa chính, khuyến nông, tài nguyên và khoảng sản, và các kỹ sư cũng như các nhà quản lý tại các công ty xí nghiệp mà có các hoạt động liên quan tới tài nguyên môi trường.

Với thực trạng nêu trên, việc đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý TN&MT tại Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên là một yêu cầu tất yếu nhằm cung cấp đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, chuyên môn sâu phục vụ cho sự phát triển kinh tế - giáo dục và bảo vệ môi trường vùng trung du miền núi.

2. YÊU CẦU ĐÀO TẠO THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Đào tạo thạc sĩlà để bổ sung và nâng cao những kiến thức đã học ở đại học cho học viên, hiện đại hóa những kiến thức chuyên ngành, tăng cường kiến thức liên ngành, có đủ năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành đào tạo.Đào tạo thạc sĩ Quản lý TN&MTnhằm trang bị những kiến thức sau đại học và nâng cao kỹ năng thực hành để xây dựng đội ngũ những người làm khoa học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có chuyên môn vững vàng; có năng lực thực hành và khả năng thích ứng cao trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật; có khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành Quản lý TN&MTphục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam nói chung và ở khu vực trung du, miền núi phía Bắc nói riêng [1].

Những người có trình độ thạc sĩ Quản lý TN&MTlà những người có trình độ chuyên ngành vững chắc. Sau khi được học tập nâng cao và cùng với kinh nghiệm làm việc đã tích lũy được, họ sẽ có thêm kiến thức liên ngành và năng lực thực hiện công tác chuyên môn cũng như nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành đào tạo thuộc lĩnh vực tài nguyên, môi trường. Họ sẽ là những người làm việc chủ yếu trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, làm việc thực tế góp phần cải tạo môi trường, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ ngành Quản lý tài nguyên và môi trường, người học có thể làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương có liên quan đến tài nguyên và môi trường, các khu bảo tồn, các vườn quốc gia; ban quản lý các khu công nghiệp; các đơn vị sản xuất kinh doanh; các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ; tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu; và tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu, đào tạo, và tư vấn.

Tuy nhiên hiện nay nhiều học viên học thạc sĩ xuất phát từ những động cơ khác nhau. Mục đích đi học thạc sĩ của nhiều học viên là thực sự tiếp thu điều mới, nâng cao được kiến thức chuyên môn, và sau khi tốt nghiệp đều đã phát huy, phát triển tốt kiến thức đã học vào công việc hàng ngày của mình. Một số học viên phấn đấu không ngừng, tiếp tục tìm tòi, đi sâu nghiên cứu về các lĩnh vực họ yêu thích hoặc lĩnh vực thế mạnh. Đối với một số íthọc viên,bằng thạc sĩ “hấp dẫn” chủ yếu đang chỉ bởi tư cách là “giấy thông hành” bắt buộc cho sự thăng tiến trong sự nghiệp của các học viên.

Để thực hiện được những yêu cầu đào tạo này, đáp ứng nhu cầu xã hội, nhà trường cần thực hiện các giải pháp đồng bộ trong việc đào tạo và định hướng người học.

3. ĐỀ XUẤT giải pháp đào tạo Thạc sĨ Quản lý TN&MTchất lượng cao đáp ứng nhu cầu THỰC TIỄN

Việc nâng cao năng lực học viên, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đỏi hỏi trường Đại học Khoa học Thái Nguyên thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp được kiến nghị dưới đây [5,6,8]:

1. Về phía nhà trường và Khoa chuyên môn

(1). Cần không ngừng đổi mới phương thức đào tạo

Nhà trường cần tiếp tục hoàn thiện và tổ chức đào tạo chương trình thạc sĩ Quản lý TN&MTphù hợp với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ bảo đảm tính mềm dẻo, linh hoạt và liên thông của phương thức đào tạo. Các mô hình và chương trình đào tạo mới này sẽ góp phần phát triển năng lực người học, đáp ứng kịp thời các nhu cầu xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển quy mô đào tạo và nâng cao địa vị, danh tiếng, uy tín xã hội của Nhà trường.

(2).Cần tiếp tục chú trọng xây dựng chương trình đào tạotăng cường thực hành, đáp ứng nhu cầu thực tiễn trên quan điểm tiếp cận phát triển

Chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lý TN&MTđược xây dựng trên quan điểmluôn bám sát theo nhu cầu nhân lực của xã hội, điều kiện của người học, khả năng đáp ứng của trường đại học. Giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa đào tạo theo nhu cầu của địa phương, khu vực, tiềm lực đội ngũ cán bộ của trường, tạo điều kiện tối đa cho người học về mọi phương diện (thời gian, kinh phí, điều kiện làm việc,…). Việc bố trí thời gian học hợp lý (vào các ngày thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật hàng tuần) sẽ tạo điều kiện cho các học viên đang làm việc có cơ hội theo học đầy đủ chương trình đào tạo.

Nhà trường cần chú trọng việc bổ sung, cập nhật chương trình đào tạo, cơ cấu chương trình đào tạo cao học Quản lý TN&MT không quá thiên về cung cấp tri thức khoa học cơ bản mà phải chú trọng hình thành, phát triển kỹ năng, năng lực, phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của thực tiễn. Bên cạnh đó mục tiêu đào tạo sau đại họccòn đòi hỏi đào tạo những người có trình độ cao về lý luận, có kỹ năng thực hành, có khả năng nghiên cứu độc lập, đồng thời là những chuyên gia giỏi về lĩnh vực quản lý tài nguyên, quản lý và xử lý các vấn đề môi trường, phòng chống thiên tai… trong giai đoạn hiện nay. Trường cần xác định đào tạo bậc sau đại học là đàotạo nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, học để làm việc, nắm vững lý thuyết và chuyển hoá thành tư duy sáng tạo; có những kỹ năng, phẩm chất và bản lĩnh cao của cán bộ quản lý. Để thoả mãn các nhu cầu đó, cần phải đa dạng hóa chương trình đào tạo, tăng cường số tín chỉ thực hành, thực nghiệm, thực tế chuyên môn môn học, hoàn thiện các quy chế về đào tạo... và lấy mục tiêu hoà nhập trình độ đào tạo thạc sĩ với các trường trong nước và quốc tế.Chương trình đào tạo thạc sĩ quản lý TN&MTcần thiết được thay đổi cập nhật thường xuyên, có xu hướng tiếp cận để sát với các chương trình đào tạo sau đại học tiên tiến của các nước.

Trường Đại học Khoa học hiện đã tiếp thu một số chương trình đào tạo sau đại học của một số nước và vận dụng vào đặc điểm của Việt Nam, của vùng, học hỏi cách tổ chức xây dựng chương trình, quản lý chương trình, nên đã tạo được một chương trình đào tạo sau đại học của mình. Hiện nay các môn học đều đã có chương trình và hệ thống tài liệu tham khảo. Cách giảng dạy, hướng dẫn thực hành cần thiết chuyển sang hình thức dùng các bài tập giải quyết vấn đề thực tiễn nhiều hơn. Cách đánh giá từng môn học nên được phân chia thành nhiều phần đánh giá, và hình thức thực hiện viết tiểu luận các môn học sẽ phát huy tác dụng, tạo tính chủ động của học viên trong quá trình tiếp thu các kiểu thức mới. Quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy cần có sự hỗ trợ tích cực của các phương tiện kỹ thuật giúp cho người dạy, người học sẽ tiếp cận nhanh những thông tin được cập nhật hàng ngày.

(3). Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị hiện đại, phòng thực hành, thí nghiệm, phòng học tập của học viên, tư liệu sách, giáo trình và các tài liệu học tập khác

Cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu hiện đại, phòng thực hành, thí nghiệm, tư liệu sách, giáo trình, các tài liệu học tập khác là những điều kiện căn bản giúp giảng viên, học viên có môi trường, điệu kiện tốt, thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động giảng dạy và dễ dàng lĩnh hội tri thức. Để có khả năng nghiên cứu các thông số môi trường, giám sát và quản lý tài nguyên đòi hỏi người học cần được trang bị các trang thiết bị kỹ thuật máy móc quan trắc, phân tích môi trường hiện đại, phù hợp. Người học thông qua hoạt động sử dụng thiết bị, đo tính thực tế sẽ nâng cao khả năng thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề của thực tiễn.

Hiện nay, nhiều học viên trong quá trình học tập đòi hỏi sự tập trung nghiên cứu. Nhà trường cần có phòng học tập dành riêng cho học viên giúp người học thuận lợi trong quá trình tự học, nghiên cứu tài liệu tại trường, tổng hợp tài liệu. Phòng học của học viên sẽ giúp học viên có môi trường học thuận lợi, tập trung và góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của bản thân.

Trường Đại học Khoa học đã có phòng thí nghiệm, với nhiều máy móc thiết bị đáp ứng hoạt động đào tạo thạc sĩ. Nhà trường và Khoa đang tiếp tục triển khai dự án phòng thí nghiệm hiện đại (với kinh phí lên đến 35 tỷ đồng), là một trong những phòng thí nghiệm hiện đại bậc nhất ở ĐH Thái Nguyên và của vùng trung du miền núi phía Bắc. Với cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm hiện đại, Khoa và các học viênsẽ có điều kiện thuận lợi trong việc gắn kết học tập trên lớp, thực hành, phân tích thông số, dữ liệu tài nguyên, môi trường tại phòng thí nghiệm.

Đến nay, tất cả các học phần của ngành học hiện đều đã có giáo trình, tài liệu học tập phù hợp với chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ đáp ứng được nhu cầu học tập, giảng dạy của giảng viên và sinh viên. Tuy nhiên nhà trường và Khoa cũng cần thường xuyên cập nhật tư liệu sách, giáo trình, tạp chí chuyên ngành… mới tạo cơ hội cập nhật kiến thức lý luận và thực tiễn khoa học cho người học, giúp học viên bắt kịp với hoạt động nghiên cứu, giải quyết các vấn đề môi trường trên thế giới trong thế kỷ 21.

(4) Tăng cường khả năng nghiên cứu thực nghiệm, hoạt động thực hành, thực tế cho học viên

Nhà trường và Khoa KH Môi trường và Trái Đất cần tăng cường các giờ học thực hành, thực nghiệm, bổ sung thêm các hoạt động thực tế chuyên môn, thảo luận nhóm cho học viên giúp học việc luôn gắn kết giữa kiến thức lý thuyết với thực tiễn, phát triển kĩ năng thực hành, khả năng tư duy, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp sau này.

(5) Tăng cườngthí điểm các mô hình hợp tác điển hình với các doanh nghiệp, trường đại học, liên kết đào tạo với các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo uy tín trong nước

Liên kết đào tạo trình độ thạc sĩ giữa các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, xây dựng các mô hình hợp tác điển hình với các doanh nghiệp là một hoạt động nhằm phát triển nguồnnhân lực có trình độ cao một cách hiệu quả, nhanh, bền vững giúp học viên có kiến thức, có khả năng vận dụng trong công việc. Liên kết đào tạo là hoạt động thường xuyên trường Đại học Khoa học, trong đó có ngành học thạc sĩ Quản lý TN&MT. Hoạt động liên kết không chỉ giúp chia sẻ kinh nghiệm xây dựng, thiết kế chương trình và nội dung đào tạo, chia sẻ tiềm lực đội ngũ cán bộ khoa học, khả năng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Đó cũng là hoạt động tạo điều kiện cho người học có cơ hội tiếp cận trình độ học thuật cao hơn và tính đa dạng, thế mạnh riêng của các cơ sở giáo dục, cơ sở nghiên cứu. Hoạt động liên kết để đào tạo đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ cao của người học, thực hiện chiến lược phát triển bền vững nguồn nhân lực địa phương.

Viện Công nghệ Môi trường, Viện Địa lý thuộc Viện hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam, Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐH Quốc gia Hà Nội… là những trung tâm đào tạo, nghiên cứu hàng đầu của cả nước. Đây cũng là nơi có nhiều Giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành với các thế mạnh nghiên cứu về: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ môi trường;Phân tích, đánh giá, dự báo, xử lý, cải thiện, quy hoạch môi trường;Nghiên cứusử dụng hợp lý tài nguyên, quy hoạch lãnh thổ;Nghiên cứu dự báo, cảnh báo thiên tai và các biến động môi trường địa lý do tác động của con người và của quá trình BĐKH toàn cầu, đánh giá tổng hợp, điều tra cơ bản điều kiện, tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn và môi trường…hoạt động liên kết đào tạo giúp giảng viên và học viên có thêm tài liệu nghiên cứu, có cơ hội tham gia các dự án thực tiễn, có thêm cơ sở vật chất, kĩ thuật và tài liệu, luôn được cập nhật thông tin chuyên môn đáp ứng đòi hỏi đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, tiếp cận hiện đại, thực tiễn. Như vậy việc đẩy mạnh liên kết đào tạo giữa nhà trường với các viện nghiên cứu, trường đại học, các cơ quan doanh nghiệp là thực sự cần thiết,

(6) Tăng cường công tác hợp tác quốc tế trong đào tạo học viên, trao đổi học viên quốc tế.

Hiện nay nhà trường và Khoa đã có một số bản ký kết, hợp tác với một số cơ sở đào tạo trên thế giới (với Bộ môn Quản lý tài nguyên và Quy hoạch cảnh quan, Khoa Khoa học Lâm nghiệp và sinh thái rừng, trường Đại học Goettingen, CHLB Đức, với Đại học Valladolid - Tây Ban Nha). Trong thời gian tới, để tăng cao tính cạnh tranh và tiềm lực nghiên cứu trong đào tạo thạc sĩ Quản Lý TN&MT, nhà trường cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động hợp tác đào tạo, gắn kết với các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu trên thế giới. Thông qua hoạt động hợp tác này, trường và Khoa sẽ có cơ hội cập nhật nhiều chương trình đào tạo, học phần đào tạo tiên tiến, tăng cường động trao đổi học thuật và đào tạo giảng viên, học viên trong lĩnh vực nghiên cứu.

(7) Cần thiết tổ chức triển khai việc đánh giá chất lượng giảng viên, học viên.

Hoạt động đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên và trình độ học viên cần được tiến hành thường xuyên. Thông qua quá trình này, các giảng viên sẽ không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn, học viên tự ý thức về trình độ bản thâncăn cứu vào kết quả đánh giá, người học có động lực, tích cực trong hoạt động nghiên cứu, học tập. Giảng viên dựa trên kết quả của người học lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp, bổ trợ kiến thức từ đó phát triển

2. Về phía đội ngũ giảng viên và học viên

(1) Giảng viên cần không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn và thường xuyên cập nhật thông tin khoa học tiếp cận hiện đại

Hoạt động củng cố, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên là biện pháp cần ưu tiên hàng đầu. Thực hiện tích cực biện pháp này nhà trường mới có thể kỳ vọng việc đào tạo học viên ngành Quản lý TN&MT sẽ thật sự bước vào lộ trình đào tạo theo chương trình tiên tiến, phát triển năng lực học viên. Muốn có một chương trình tiên tiến đòi hỏi phải có đội ngũ giảng viên tiên tiến, phải có phương pháp giảng dạy tiên tiến, phương pháp học tiên tiến. Khoa KH MT&TĐ cần nâng cao tỷ lệ giảng viên đạt trình độ học hàm, học vị cao, nâng cao năng lực ngoại ngữ, kiến thức thực tiễn góp phần ứng dụng trong giảng dạy và đào tạo thực tiễn theo định hướng ứng dụng.

(2) Phảigắn chặtviệc thay đổi phương pháp giảng dạy của giảng viên với thay đổi phương pháp học của sinh viên, học viên cao học.

Học chế tín chỉđòi hỏi đội ngũ giảng viên giảng dạy thạc sĩ phải thay đổi phương pháp giảng dạy, đầu tư rất nhiều công sức cho việc soạn bài giảng, giới thiệu chi tiết tài liệu cần đọc, chú trọng rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng truyền đạt, các kỹ năng về công tác thông tin cho học viên, hướng dẫn học viên thảo luận,nghiên cứu khoa học;Học viên phải thay đổi hoàn toàn phương pháp học, phải tham gia học tập với thái độ tích cực, chủ động tìm kiếm và tham khảo các tài liệu thích hợp với từng môn học, từng chuyên đề khác nhau để đạt yêu cầu của mỗi tín chỉ. Đặc thù ngành TN&MT có tình trạng nhiều học viên vừa học, vừa làm là chủ yếu, việc hướng dẫn người họctự học, tự nghiêncứu là chính với sự tư vấn của cố vấn học tập và sự định hướng của từng giảng viên các môn học.

(3)Cần bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứucho học viên Quản lý Tài nguyên và Môi trường

Học viên cần phải được bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý, làm chủ sự thay đổi trong chương trình, nội dung và đối tượng dạy học.

Học viên phải được rèn luyện về khả năng tiếp nhận, phản biện, phát triển tri thức, phương pháp, thích ứng với những tri thức, kỹ năng mới, ứng dụng trong hoạt động nghề nghiệp cho những tình huống cụ thể.

Học viên cần học được logic trình bày cấu trúc một bài nghiên cứu, kỹ năng viết, trình bày một vấn đề khoa học. Việc tổng kết, đánh giá lịch sử nghiên cứu được thực hiện một cách thụ động, không xác định được mục tiêu, ý nghĩa của thao tác này.

Tạo điều kiện cho các học viên tham gia vào công tác đào tạo của Khoa. Đội ngũthạc sĩ Quản lý TN&MT sẽ có trách nhiệm hơn với chính công việc họ đang đảm nhiệm. Các cách thức khác nhau để đáp ứng yêu cầu của giảng viên dạy lý thuyết và để có thể trả lời được các câu hỏi khác nhau của sinh viên trong mọi tình huống phong phú, đa dạng của thực tiễn.

(4) Cần xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho học viên

Học viên có động cơ học tập đúng đắn, xác định học tập đi đôi với thực tiễn, gắn kết lý thuyết với thực hành, đào tạo định hướng ứng dụng là điều rất cần thiết. Khi có động cơ học tập đúng, người học sẽ tập trung học tập, nghiên cứu, say mê với ngành học, từ đó hiệu quả và kết quả đào tạo đạt được từ quá trình giáo dục sẽ thực sự có ý nghĩa. Đây là việc làm cần thiết đòi hỏi nhà Trường, Khoa và các cán bộ giảng viên định hướng cho học viên ngay từ lúc bắt đầu nhập học và xuyên suốt quá trình học tập sau này.

4. KẾT LUẬN

Từ những vấn đề nêu trên, việc đào tạo thạc sĩ Quản lý tài nguyên và Môi trường có chất lượng, định hướng ứng dụng là cần thiết.Nguồn nhân lực quản lý Tài nguyên và Môi trường được đào tạo và đảm bảo chất lượng là khâu then chốt quyết định mọi thành công của ngành, từng quốc gia. Chính vì lẽ đó muốn có nguồn nhân lực tốt đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động thì phải có chương trình đào tạo tốt, bám sát thực tiễn, để làm được điều đó hoạt động đào tạo vàứng dụng cần gắn kết chặt chẽ với nhau.Bài báo phân tích các giải pháp đáp ứng đào tạo nguồn nhân lực Quản lý TN&MT chất lượng cao.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008, 2011, 2014),Quyết định 45/2008/QĐ-BGDĐT, Thông tư 10/2011/TT-BGD ĐT, Thông tư 15/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đào tạo trình độ thạc sĩ.

2.Nguyễn Cường (2015), Đào tạo nguồn nhân lực môi trường: Chưa có tầm chiến lược, http://baotainguyenmoitruong.vn/thoi-su/201511/dao-tao-nguon-nhan-luc-moi-truong-chua-co-tam-chien-luoc-2640559/

3. Đại học Khoa học - ĐH Thái Nguyên (2016), Đề án mở ngành thạc sĩ Quản lý tài nguyên và môi trường.

4.Đảng Cộng sảnViệt Nam (2016),Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.76.

5. Doãn Công Khánh (2017), Một số giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở nước ta, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2013/21247/Mot-so-giai-phap-tang-cuong-cong-tac-bao-ve-moi-truong.aspx

6. Tuyết Nhi (2016), Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tài nguyên và Môi trường, http://baotainguyenmoitruong.vn/tai-nguyen-va-cuoc-song/201611/dau-tu-nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-nganh-tnampmt-2755943/index.htm

7.Trần Khắc Thạc (2015), Thực trạng công tác đào tạo nhân lực trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường tại một số cơ sở đào tạo quy mô lớn, http://dwrm.gov.vn/index.php?Khoa-hoc-Cong-nghe/Thuc-trang-cong-tac-dao-tao-nhan-luc-trong-linh-vuc-tai-nguyen-va-moi-truong-tai-mot-so-co-so-dao-tao-quy-mo-lon-4718.

8. Nguyễn Kim Tuyển (2016), Giải pháp phát triển nguồn nhân lực cơ quan quản lý nhà nước ngành môi trường Việt Nam, http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/tapchimt/cccs/Giái pháp phát triển nguồn nhân lực cơ quan quản lý nhà nước ngành môi trường Việt Nam.aspx


Khoa Môi trường - Trái đất

(0208).3703.338
Loading the player ...

Liên kết website

Thống kê website

Lượt truy câp: 794169
Trong ngày: 325
Đang online: 61