TÂM SỰ CỦA MỘT GIẢNG VIÊN TRONG NHỮNG NGÀY HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 15 NĂM THÀNH LẬP TRƯỜNG
[ 02/10/2017 00:00 AM | Lượt xem: 150 ]

Lễ kỷ niệm thành lập trường năm nay là một ngày rất đặc biệt của tất cả thế hệ thầy cô và sinh viên trong trường: tròn 15 năm thành lập. Mười lăm năm không nhiều nhưng đủ dài để các thế hệ SV biết tôn vinh những hi sinh, nỗ lực của mọi thế hệ giáo viên; và để các thế hệ SV hiểu được có một ngôi trường Đại học Khoa học như hôm nay là một chặng đường dài, trải qua bao nhiêu thăng trầm, khó khăn.

Năm nay, chẳng rõ, vào đúng ngày kỉ niệm trời sẽ nắng hay mưa, bởi đang trong giai đoạn chuyển mùa... Có nhiều thế hệ các Thầy cô, các cán bộ viên chức, các cựu SV trên các nẻo đường đất nước đang say mê cống hiến sức lực của mình có kịp sắp xếp thời gian để về tề tựu ngày Hội trường! Nhiều sinh viên sau bao ngày gặp lại họ bảo tự nhiên họ thấy nao lòng – nao lòng tiếc nuối về một thời sinh viên đã qua, nao lòng khi nghĩ đến những người đã từng yêu thương, truyền thụ tri thức và bài học cuộc sống cho mình ở trường cũ, nao lòng nhớ những người chèo đò thầm lặng. Nao lòng thường làm người ta buồn, buồn man mác. Nhưng rồi cảm xúc ấy cũng qua nhanh như một đêm trở gió, cảm xúc ấy rồi vội tan ra bởi những niềm vui, niềm hân hoan sau bao ngày thầy trò gặp lại, bao nhiêu điều chia sẻ về công việc, cuộc sống, gia đình và con cái.

Tôi đến với nghề Sư phạm, trở thành giáo viên là một cơ duyên. Mang theo tâm trạng có chút tò mò, có chút băn khoăn, có chút “phục tùng” và mang chút hồi hộp. Tôi đứng trên bục giảng, từ một sinh viên đã trở thành cô giáo. Việc dạy học cũng biết bao nhiêu điều vui buồn, nhiều tình huống mà tôi chưa bao giờ được gặp. Tôi ban đầu mò mẫm, làm theo cái tài, cái tâm và cái đức của mình - một giảng viên tập sự. Tôi đứng trên giảng đường với một tư thế hoàn toàn khác mang trên vai một sứ mệnh lớn lao. Mỗi lần đón sinh viên mới, tiếp nhận một lớp học mới, tôi hồi hộp vì chẳng rõ mình sẽ gặp những bạn trẻ thế nào? Họ cần gì, muốn gì? Họ mang những tâm tư gì vào lớp học? Mục tiêu họ muốn đạt tới là gì?... Chừng ấy câu hỏi làm tôi – một giảng viên trẻ – phải trăn trở về những gì sẽ làm.

Thời gian gần đây thấy người ta nói về giáo dục nhiều quá, nói về nghề giáo nhiều quá. Nói hay thì mình thấy vui mừng mà những lời nói không hay thì mình thấy ấm ức. Rồi có nhiều người hỏi sao sao lại chọn nghề giáo, họ nói nghề giáo nghèo lắm, lương tháng chẳng đủ để nuôi thân, nhỡ có ốm đau bệnh tật thì biết làm thế nào. Nhưng hàng ngày được lên lớp, được tiếp xúc, được truyền thụ kiến thức, rồi chia sẻ về cuộc sống với SV gần tuổi với mình, tôi thấy vui, hạnh phúc. Tôi thấy nghề này phù hợp với mình và nghề này sẽ sống với mình, đúng là cái duyên thực sự rồi. Ngẫm cho cùng thì sự đúng sai, nghèo khổ cũng chỉ là tương đối, có chăng là do cách nhìn nhận của mỗi người mà thôi. Mình nhìn nghề giáo thế nào nhỉ? Nghề giáo có niềm vui, cái niềm vui nghe thật lạ lùng nhưng quả thật sẽ chẳng có niềm vui nào có thể vui hơn thế. Đó là vui về sự khôn lớn, về sự trưởng thành của những thế hệ học trò của mình… vui vì người khác vui. Nghề giáo có “của để dành” - cái “của” mà nhiều khi chính các thầy cô cũng không hay biết và cũng chẳng phải các thầy cô làm mọi thứ vì học trò để có cái “của” ấy. Đó chính là tình cảm thiêng liêng mà một năm, mười năm, thậm chí hơn thế, người ta vẫn giữ cho nhau giữaxã hội xô bồ.

lẽ, điều quan trọng nhất đối với tôi khi mới chập chững bước vào nghề đó là tôi được sống trong một môi trường thuận lợi, một tập thể đoàn kết, hết lòng vì đồng nghiệp sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm. Cái tâm đắc nhất theo tôi là “lương tâm, trách nhiệm” của tập thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên đối với sinh viên. Bản thân họ không chỉ là người dạy, người quản lý mà còn là người phục vụ tận tình, tâm huyết với người học. Để có chữ tâm trước hết người thầy phải có “đạo đức, nghề giáo”; như Hồ Chủ tịch căn dặn: “Giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản thì còn làm nổi việc gì”. Cho nên Người thường khích lệ, động viên giáo viên và những cán bộ giáo dục phải bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tình cảm tốt đẹp trước hết là tình thương yêu người ruột thịt, yêu bạn bè, đồng chí, yêu cô giáo, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; hình thành ý thức, tổ chức kỷ luật, ý thức tập thể, lối sống thật thà, khiêm tốn, trung thực, giản dị, biết xử sự theo tinh thần “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”. Đối với phương pháp giáo dục, Người đã từng căn dặn phải giáo dục bằng tình thương yêu, hiểu biết lẫn nhau và bằng tình đoàn kết gắn bó. Người Thầy phải là người yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu chăm sóc giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương cho học sinh noi theo.

Những thế hệ trước đã làm được những điều thật tuyệt vời, thế hệ chúng tôi, thế hệ trẻ phải làm sao để tiếp tục sự nghiệp đó. Thế hệ hôm nay phải làm cho ngôi trường này là nơi dạy học hiện đại. Theo“Dạy học hiện đại và nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên - Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, muốn cónền giáo dục tốt sẽ giải quyết được những thách thức do các vấn đề của thời đại đem lại như: mối quan hệ giữa lâu dài và trước mắt, giữa toàn cầu và địa phương, giữa truyền thống và hiện đại, giữa toàn cầu và cá thể, giữa cạnh tranh và bình đẳng cơ hội, giữa khối lượng tri thức ngày càng tăng và khả năng nhận thức của con người có hạn, giữa tinh thần và vật chất. Nền giáo dục tốt sẽ đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường sức lao động đầy biến đổi trong xã hội hiện đại.

Như vậy,để có một nền giáo dục tốt thì việc xây dựng đội ngũ giáo viên chất lượng cao là một yêu cầu tất yếu và là khâu đột phá có tính chất quyết định cho việc nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo hiện nay. Với vai trò quan trọng như vậy, những yêu cầu đối với nhà giáo được đưa ra trong giai đoạn hiện nay là:

- Nhà giáo phải có phẩm, chất đạo đức, tư tưởng tốt

- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ.

- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp

- Lýlịch bản thân rõ ràng.

Với những yêu cầu trên, nhiệm vụ của nhà giáo trong giai đoạn hiện nay là:

- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục.

- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật và điều lệ nhà trường.

- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người học.

- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học.

Với những nhiệm vụ trên thì vai trò của ngưòi giáo viên cũng có sự thay đổi.Giáo viên phải là những chuyên gia để tổ chức, điều khiển, cố vấn, khuyến khích, động viên, kích thích và phát huy tính tích cực nhận thức của học sinhtrong quá trình học tập của các em hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức.

Mặt khác, trong điều kiện xã hội phát triển như hiện nay, trí tuệ của học sinh có sự phát triển hơn so với học sinh thời kỳ trước, nên trong quá trình dạy học, người giáo viên cần:

- Quan tâm khai thác những hiểu biết và kinh nghiệm sống của học sinh với nhiều hình thức như tổ chức cho học sinh viết báo cáo, thảo luận, trao đổi kinh nghiệm, vận dụng kinh nghiệm đã có để giải quyết những nhiệm vụ học tập hoặc những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống đặt ra.

- Tính đến năng lực nhận thức của các em để không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.

- Tính đến nhu cầu, hứng thú học tập, tâm tư tình cảm, nguyện vọng của học sinh để xây dựng và lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Bên cạnh đó, người giáo viên còn có thể khơi dậy ở học sinh lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.

Dựa trên cơ sở tiêu chuẩn của Harry Murray ở đại học Western Ontario, một giáo viên dạy tốt thường có những biểu hiện của 12 hành vi đặc trưng như sau:

(1) Nhiệt tình

- Sử dụng cử chỉ, điệu bộ để thu hút sự chú ý và hứng thú của học sinh

- Nói có hồn và diễn cảm

- Đi lại hoặc cử động trong khi giảng

- Có điệu bộ (bàn tay, cánh tay) thích hợp, không kể những cử chỉ, điệu bộ do thói quen cá nhân làm xao lãng sự tập trung của học sinh

- Duy trì sự giao tiếp bằng mắt với học sinh

- Đi lại trong lớp

- Không đọc lại bài giảng y nguyên như trong tài liệu, giáo trình

- Mỉm cười trong khi giảng

(2) Phương pháp

- Cách giải thích hoặc làm rõ khái niệm, nguyên lý

- Mỗi khái niệm có một vài ví dụ

- Dùng các ví dụ cụ thể hàng ngày (trong đời sống) để giải thích khái niệm và nguyên lý

- Định nghĩa thuật ngữ mới

- Lặp lại vài lần các ý khó

- Nhấn mạnh những điểm quan trọng bằng cách dừng lại, nói chậm, lên giọng .v.v.

- Sử dụng đồ thị, biểu đồ để minh họa vấn đề đang trình bày

- Chỉ ra những ứng dụng thực tế của khái niệm

- Trả lời các câu hỏi của học sinh một cách đầy đủ và cẩn thận

- Gợi ý cách ghi nhớ những khái niệm phức tạp

- Viết những từ khoá lên bảng hoặc phim trong

- Giải thích chủ đề chính theo cách nói thông dụng

(3) Tương tác

- Các kỹ thuật dùng để cổ vũ sự tham gia của học sinh trong lớp

- Khuyến khích học sinh đưa ra các câu hỏi, nhận xét trong lớp học

- Tránh phê phán trực tiếp học sinh khi họ có lỗi

- Khen ngợi những ý tưởng hay của học sinh

- Đặt câu hỏi cho học sinh cụ thể

- Đặt câu hỏi cho cả lớp

- Kết hợp (đưa) ý tưởng của học sinh vào bài giảng

- Đưa ra những thách thức để khuyến khích ý tưởng mới

- Dùng nhiều phương tiện và hoạt động khác nhau trong lớp

- Có đặt câu hỏi mang tính chất gợi ý, định hướng

- Lắng nghe và trả lời các ý kiến đóng góp của học sinh

(4) Tổ chức

- Phương pháp tổ chức hoặc cấu trúc bài giảng

- Dùng các đề mục, chỉ mục để tổ chức bài giảng

- Viết dàn bài lên bảng hoặc phim trong

- Chuyển ý, chuyển chủ đề một cách rõ ràng và hấp dẫn

- Cho học sinh cái nhìn khái quát khi bắt đầu bài mới

- Giải thích vì sao từng chủ đề phù hợp với toàn bộ khoá học

- Bắt đầu bài mới bằng cách ôn lại những nội dung đã học có liên quan

- Thường xuyên tóm tắt các ý đã giảng

(5) Nhịp độ

- Tốc độ trình bày thông tin, sử dụng thời gian hiệu quả

- Hiếm khi bị lạc đề

- Trình bày được hết nội dung bài giảng (không bị cháy giáo án)

- Trước khi đi tiếp sang một vấn đề tiếp theo, đặt câu hỏi để kiểm tra mức độ hiểu vấn đề trước đó của học sinh

- Vẫn bám sát nội dung bài học khi trả lời các câu hỏi của học sinh

(6) Rõ ràng trong công việc

- Khuyên học sinh cách chuẩn bị cho bài kiểm tra

- Cung cấp mẫu câu hỏi kiểm tra

- Nói cho học sinh cụ thể những yêu cầu cần có cho bài kiểm tra, tiểu luận, bài thi

- Nêu rõ mục tiêu của mỗi buổi học

- Nhắc nhở học sinh ngày kiểm tra hoặc thời hạn nộp bài

- Nêu lên mục tiêu của toàn khoá học

(7) Cách nói

Những đặc điểm ngôn ngữ phù hợp với dạy học trên lớp

- Âm lượng thích hợp

- Giọng nói rõ ràng

- Tốc độ nói vừa phải

- Thỉnh thoảng im lặng trong khi giảng để học sinh “ngấm”

- Tránh dung những từ đệm như “à”, “ư”.

(8) Quan hệ

Mức độ thân thiết trong quan hệ cá nhân giữa thầy và trò

- Gọi tên học sinh khi hỏi, trao đổi

- Thông báo những dịp trao đổi ngoài giờ học

- Sẵn sàng giúp đỡ học sinh khi có vướng mắc

- Chấp nhận những quan điểm khác biệt

- Trò chuyện với học sinh trước hoặc sau giờ học

- Chấp nhận sự đa dạng ở học sinh cũng như sự đa dạng về đặc điểm văn hoá của họ

(9) Thực tế

Gắn kết giữa nội dung, sự tiến triển của khoá học với thực tiễn

- Dạy khái niệm và kỹ năng nhỏ, cụ thể thông qua những tình huống lớn, thực tế

- Tích hợp các tài liệu (ví dụ, trường hợp, tương tự) từ “thế giới thực” thực tiễn

- Liên hệ giữa các khái niệm và kỹ năng học tập với kinh nghiệm của người học

- Hướng dẫn cho người học cách liên hệ với các nguồn tài liệu và chuyên gia bên ngoài trong phạm vi môn học

- Tạo cơ hội cho người học áp dụng việc học vào thế giới bên ngoài

- Tạo cơ hội cho người học mang những kiến thức học được từ bên ngoài vào lớp

(10) Hướng vào người học

Tập trung cao độ vào việc học và sự thành thạo của học sinh

- Tập trung vào kết quả hoạt động học và sự phát triển, chứ không phải nội dung dạy học

- Thông báo đầy đủ các đánh giá trước, trong, và khi kết thúc quá trình học tập

- Có gợi ý cho học sinh khám phá và xây dựng kiến thức

- Học sinh có một số điều khiển đối với quá trình học tập của mình

- Khuyến khích lối học tập tích cực, học tập cộng tác, học tập hợp tác

- Giáo viên chủ yếu là người thiết kế và huấn luyện

- Giáo viên và học sinh cùng làm việc trong một nhóm khi phù hợp

- Người học được chủ động thực hiện việc học tập của bản thân

- Khuyến khích người học bằng cách hỗ trợ họ phát triển năng lực bản thân

(11) Linh hoạt

- Nhìn nhận và tiếp cận tài liệu dưới nhiều góc độ, nhiều cách khác nhau sao cho phù hợp nhất với môn học

- Dạy học có tác động tới nhiều kiểu học tập khác nhau

- Cẩn thận đối với những quan điểm chủ quan trong khối kiến thức của môn học

- Đánh giá cao óc tò mò khám phá, đưa ra nhiều hướng đi khác nhau của học sinh

- Sẵn sàng để học sinh chịu trách nhiệm đối với việc học của mình khi cần thiết

(12) Lãnh đạo

- Thái độ công dân gương mẫu, là người thận trọng và tôn trọng sự đa dạng (trong văn hoá)

- Mẫu mực và yêu cầu học viên có thái độ thích hợp cho việc dạy và học

- Mẫu mực trong cách tiếp cận các ý tưởng, khái niệm và tài liệu

- Đưa ra những đòi hỏi phù hợp với tất cả các mức năng lực của người học

- Thể hiện sự tôn trọng đối với tính đa dạng và yêu cầu lớp học cũng có một thái độ tương tự

Trên đây là những đặc điểm mà người giáo viên cần phải có, nhưng để có những đặc điểm đó thì người giáo viên phải một đời cố gắng. Trong suốt gần mười năm đi dạy, và với đặc điểm học sinh sinh viên như hiện nay tôi đúc kết được rằng: Chúng ta hãy biết lắng nghe học sinh.Khi lên lớp nếugiáo viên cứ mải miết truyền đạt những kiến thức của bài học, mà không nhận ra rằng nhân tố quan trọng để học sinh nắm được bài là cần có sự quan tâm, trao đổi, đàm thoại giữa người dạy với người học thì những tiết giảng diễn ra một cách hờ hững như thế làm mất đi tính hấp dẫn, thu hút của nội dung bài học và sự hứng thú trong học tập của học sinh. Không biết lắng nghe học sinh trong quá trình giảng dạy dẫn đến sự dửng dưng, vô cảm – đó là những hạn chế mà bất cứ giáo viên nào cũng phải khắc phục.

Văn hóa học đường không chỉ đòi hỏi học sinh phải biết ứng xử có văn hóa với thầy cô và với các bạn cùng trang lứa, mà còn yêu cầu giáo viên ứng xử có văn hoa, gương mẫu với học sinh, với đồng nghiệp. Biết lắng nghe những băn khoăn,trăn trở, tâm tình của học sinh là một biểu hiện của ứng xử có văn hóa.

Qua đó, giáo viên gần gũi hiểu được tâm tư, nguyện vọng và khả năng của học sinh để lựa chọn phương pháp phù hợp, giúp người học nắm vững bài học một cách thuận lợi nhất. Khi giáo viên trò chuyện cần phải có thái độ chân thành, cởi mở, sẽ lắng nghe được những lời góp ý khách quan, thành thật từ phía học sinh.

Đó là những thông tin theo các chiều hướng khác nhau, giáo viên dựa vào đó để định hướng, điều khiển, điều chỉnh dư luận tập thể tích cực, tạo bầu không khí tâm lý lành mạnh, là môi trường thuận lợi để giáo dục nhân cách học sinh.

Là cương vị của người thầy, chúng ta hãy mở rộng “vòng tay tình bạn” nối liền đến trái tim học trò. Hãy coi học trò là những người bạn để sẻ chia, để đồng cảm để từ đó mới có thể phác hoạ được chân dung đời sống tâm hồn của học sinh. Dạy học phải truyền cả niềm tin chứ không phải là một khối lượng kiến thức đơn thuần.

Chúng ta hãy thực sự là một đạo diễn vừa là diễn viên trên sân khấu nhưng đồng thời cũng thể hiện là người anh, người chị, người bạn chân thành của các em, hãy vừa là nhà giáo nhưng cũng cần trở thành một nhà tư vấn tâm lí.

Trên đây là một vài điều tâm sự của bản thân tôi, cũng là cảm nhận của bản thân tôi sau bao năm công tác tại trường. Mong rằng ngày thành lập trường năm nay, cô trò chúng ta sẽ có một ngày thật hạnh phúc, ý nghĩa.


< Vũ Thị Phương- GV Khoa KHMT&TĐ >

Khoa Môi trường - Trái đất

(0208).3703.338
Loading the player ...

Liên kết website

Thống kê website

Lượt truy câp: 759456
Trong ngày: 152
Đang online: 63